Thông báo mới

Welcome to www.giaiphapmoitruong.com Nơi chia sẻ kiến thức chăn nuôi bổ ích, hãy cùng nhau đóng góp để xây dựng một cộng đồng vững mạnh nhé.

Bệnh do coccidia và balantidium trên heo

0 Lượt xem: | Nhận xét: 0
Bệnh do coccidia và balantidium trên heo Bệnh do coccidia và balantidium trên heo
9/10 356 bình chọn

1. Bệnh do coccidia

1.1 Tầm quan trọng của việc phòng ngừa cầu trùng

- Sức khỏe đường ruột heo con ảnh hưởng đén sự tăng trưởng, nhiễm khuẩn kế phát và hiệu quả sử dụng thức ăn cả đời heo.
- Việc bảo vệ niêm mạc ruột khỏi cầu trùng ở heo con theo mẹ rất quan trọng trong phòng ngừa chậm lớn và thiệt hại kinh tế do nhiễm khuẩn đường ruột trước và sau cai sữa.
- Nguyên lý kiểm soát cầu trùng là dựa trên cơ sở bảo vệ nhung mao ruột trong quá trình ủ bệnh và phát bệnh giúp cải thiện sức khỏe đường ruột heo con.
- Bệnh đặc trưng bởi bệnh tiêu chảy ở heo còn bú và heo mới cai sữa. Bệnh thường do Isospora suis nhưng đôi khi do các Eimeria spp khác .

1.2 Đặc điểm của bệnh

- Bệnh cầu trùng “sơ sinh” do Isospora suis gây ra thường xảy ra ở lợn con được nuôi nhốt, từ một đến ba tuần tuổi, đang cho con bú và ít xảy ra và nghiêm trọng hơn ở lợn con mới cai sữa lớn hơn. 
- Mặc dù một số loài cầu trùng thuộc giống Eimeria thường lây nhiễm cho heo từ một đến ba tháng tuổi, nhưng bệnh lâm sàng hiếm khi xảy ra. Dịch bệnh chỉ xảy ra khi những con heo chưa được phơi nhiễm trước đó được đặt trong những môi trường bị ô nhiễm cao, bao gồm cả những cơ sở ương hoặc nuôi / xuất chuồng không hợp vệ sinh.

1.3 Căn nguyên gây bệnh

- Isospora suis là nguyên nhân thường gặp của bệnh cầu trùng ở heo rất nhỏ, được nuôi nhốt. Noãn bào bị nhiễm trong khoảng 12 giờ ở nhiệt độ 68-97 ° F. Điều này nằm trong phạm vi được duy trì ở nhiều cơ sở nuôi nhốt. Sau khi ăn phải noãn bào tử, tình trạng bệnh ở lợn sơ sinh có thể xảy ra ít nhất là năm ngày.
- Isospora suis trải qua các giai đoạn thông thường của quá trình sinh bào tử, tạo tế bào và phát triển nội sinh với sự nhân lên trong biểu mô ruột như được báo cáo ở các loài khác. Sự phát triển thường xảy ra ở biểu mô của ruột non, đặc biệt là ở hỗng tràng và hồi tràng, ít xảy ra ở tá tràng, manh tràng và đại tràng. 
- Sự phát triển thường xảy ra ở các tế bào trên phần xa của nhung mao ruột; trong các trường hợp nhiễm trùng nặng, nó có thể xảy ra ở biểu mô mật. 
- Các nang noãn bào tử hoàn toàn của I. suis có hai túi bào tử; mỗi loại này có bốn thể bào tử. 
- Eimeria spp. khá giống nhau nhưng có vòng đời dài hơn (18 ngày) và ái lực cao hơn với ruột già và ruột non xa.

1.4 Cơ chế sinh bệnh

- Trứng cầu trùng được thải qua phân ra ngoài môi trường, phát triển và có khả năng lây nhiễm trong vòng 12-24 giờ ở nhiệt độ khoảng 25-35 độ C. 
- Trứng cầu trùng có thể tồn tại ngoài môi trường nhiều tháng và rất khó diệt do chúng kháng với hầu hết thuốc sát trùng. 
- Trứng được heo ăn vào và trải qua 3 giai đoạn phát triển trên thành của ruột non để hoàn thành vòng đời. Đây là giai đoạn chúng gây tổn thương cho đường tiêu hóa.


- Để hoàn thành vòng đời phải mất 5-10 ngày, do đó bệnh sẽ không biểu hiện triệu chứng ở heo con trước 5 ngày tuổi.

1.5 Chẩn đoán

- Lấy mấu phân heo tiêu chảy xét nghiệm tìm noãn nang bằng phương pháp phù nổi. ngoài ra có thể lấy phần ruột( ruột non) có bệnh tích đi kiểm tra mô học.

1.6 Dấu hiệu lâm sàng và bệnh tích

- Các dấu hiệu bao gồm tiêu chảy từ vàng đến trong, nhão đến chảy nước, mất nước, lông xù xì và không tăng cân. 
- Bệnh lâm sàng trong một lứa có thể xuất hiện thành hai đợt: 
  • Đợt đầu tiên (từ 4 đến 6 ngày) biểu hiện sự lây nhiễm và tiếp theo là sự ô nhiễm môi trường chuồng đẻ của một vài con heo bị ảnh hưởng
  • Đợt thứ hai xuất hiện sau 4 đến 8 ngày sau khi phần còn lại của lứa bị nhiễm bệnh. Heo con thường tiếp tục bú nhưng có thể bị nôn ra sữa. Tỷ lệ mắc bệnh cao nhưng tỷ lệ tử vong thay đổi, thường ở mức trung bình. 
- Bệnh tích
  • Tổn thương thường giới hạn ở đường ruột, đặc biệt là đoạn dưới hỗng tràng và hồi tràng. 
  • Các thương tổn khác nhau về mức độ nghiêm trọng, tùy thuộc vào số lượng tế bào trứng được ăn vào. 
  • Trong những trường hợp nhiễm trùng nhẹ, ruột có xu hướng bị đục. Viêm ruột dạng sợi nhẹ có thể thấy ở những đoạn ngắn của ruột non dưới. 
  • Trong trường hợp nhiễm trùng nặng, có thể có viêm ruột do tiêu sợi huyết. Đôi khi tá tràng, manh tràng hoặc ruột kết bị ảnh hưởng.



- Về mặt vi thể, có hoại tử và sau đó là teo và hợp nhất một số nhung mao niêm mạc, tăng sản biểu mô mật và kéo dài các nếp nhăn niêm mạc. Các nhung mao ngắn có thể được bao phủ bởi các tế bào biểu mô hình khối hoặc dẹt. Các giai đoạn khác nhau của Isospora suis rõ ràng trong các tế bào ký sinh. Nếu thời gian thích hợp đã trôi qua kể từ lần nhiễm trùng ban đầu, có thể có nang trứng trong phân.

2. Tiêu chảy do Balantidium coli

2.1 Căn nguyên gây bệnh

- Balantidium Coli là một loại ký sinh trùng đơn bào đường ruột (ruột già) hay còn được gọi là mao trùng vì nó di chuyển bằng lông, nó gây đau bụng và tiêu chảy trên cả người và động vật có vú trong đó đặc biệt là nó gây bệnh tiêu chảy phân xám trên heo.
- Bệnh thường có mặt ở các nước nhiệt đới và các nước đang phát triển, những nơi có điều kiện vệ sinh môi trường kém. Những năm trở lại đây bệnh xuất hiện trên khá nhiều trang trại ở nước ta, đặc biệt là những trang trại sử dụng nước ao, hồ, sông…để tắm và cho heo uống.

2.2 Cơ chế sinh bệnh

- Balantidium coli truyền qua đường ăn-uống. Khi nang gây bệnh của Balantidium coli được ăn vào, tới ruột nó sẽ trải qua 2 giai đoạn phát triển: 
  • Giai đoạn trophozoites và giai đoạn nang. 
  • Nang là giai đoạn gây nhiễm của vòng đời Balantidium coli.
- Một khi nang được heo ăn vào và đi qua hệ thống tiêu hóa, nhờ có vách nang cứng rắn nên nó tồn tại dưới môi trường axit của dạ dày, ở ruột non giai đoạn trophozoites được hình thành. 
- Sau đó, các trophozoites xâm chiếm ruột già, ở đó nó sống trong lòng ruột và ăn hệ vi khuẩn đường ruột, các mảnh vỡ tế bào, hạt tinh bột và chất hữu cơ khác.
- Một số trophozoites xâm nhập vào thành của ruột già nhờ có enzyme phân giải protein và nhân lên bằng phân hạch nhị phân vô tính gây hư hại thành ruột già, một số khác trở về lòng ruột. 
- Trong lòng ruột trophozoites hình thành bao nang ở đoạn cuối của ruột già, bao nang cũng có thể hình thành ở trong phân khi đã ra khỏi vật chủ. Nang trưởng thành sẽ theo phân thải ra ngoài môi trường, từ đó chúng có thể lây nhiễm sang người hoặc con heo khác. Nguy cơ nhiễm trùng xảy ra cao nhất ở những heo có khả năng miễn dịch kém hoặc bị suy dinh dưỡng do nồng độ axit dạ dày thấp.


2.3 Dấu hiệu lâm sàng và bệnh tích

- Heo nhiễm Balantidium Coli gầy còm, lông da khô, giảm ăn, giảm tăng trọng và đặc biệt là tiêu chảy phân xám (phân xi măng) hoặc vàng loãng và đôi khi có lẫn máu.



- Nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời, con bệnh có thể bị tử vong. 
- Tỷ lệ tử vong do bệnh trùng lông Balantidium Coli gây nên có thể chiếm đến 29%. 
- Nguyên nhân tử vong thường do biến chứng thủng ruột, xuất huyết đường tiêu hóa…




- Mổ khám ruột heo có thể quan sát dễ dàng bằng mắt thường bệnh tích ruột đặc trưng do Balantidium Coli gây ra trên ruột già có nổi lên những u hạt trắng nằm rải rác.


2.4 Chẩn đoán

- Chẩn đoán bệnh nhiễm trùng lông Balantidium Coli có thể dựa vào triệu chứng lâm sàng. Tuy nhiên, dấu hiệu của hội chứng lỵ do trùng lông gây ra thường khó phân biệt với hội chứng lỵ do trực khuẩn hoặc amíp gây ra. 
- Vì vậy, trong những trường hợp này, cần thực hiện thủ thuật cận lâm sàng như soi trực tràng có thể thấy vết loét đặc trưng do trùng lông B. coli gây nên với đặc điểm vết loét thường rộng, sâu, đáy thường có phủ mủ, mô bị hoại tử…
- Ngoài ra, có thể xét nghiệm phân để tìm Trophozoites của Balantidium Coli. Các u nang Cyst hiếm khi được tìm thấy. Trong quá trình chẩn đoán chú ý phân biệt với bệnh cầu trùng: Bệnh cầu trùng xảy ra phổ biến ở heo con theo mẹ, phân không có màu xám đen, trong khi đó bệnh do B. coli xảy ra ở heo cai sữa và heo choai.

2.5 Giải pháp phòng trị

- Biện pháp tốt nhất là vệ sinh 
- Thức ăn, nước uống sạch 
- Dùng thuốc phòng hay điều tri 
  • Tetracycline 
  • Iodoquinol 
  • Metronidazole 
  • Halquinol 
- Các thuốc khác có thể mang lại hiệu quả doxycycline, ampicillin, nitrimidazine, paromomycin và carbasone.

Like và chia sẻ bài viết này ủng hộ mình nhé!

0 Response to "Bệnh do coccidia và balantidium trên heo"

Đăng nhận xét

Được tài trợ

Liên kết

Học revit môi trường | Bơm Công Nghiệp | Tuyển Nổi DAF | Tự Học Exsel | Bách Hóa Môi Trường | Tài Liệu Môi Trường
Hotline: 033.273.7037