Thông báo mới

Welcome to www.giaiphapmoitruong.com Nơi chia sẻ kiến thức chăn nuôi bổ ích, hãy cùng nhau đóng góp để xây dựng một cộng đồng vững mạnh nhé.

Bệnh tiêu hóa do virus trên heo

0 Lượt xem: | Nhận xét: 0
Bệnh tiêu hóa do virus trên heo Bệnh tiêu hóa do virus trên heo
9/10 356 bình chọn

- Heo ở mọi lứa tuổi đều dễ mắc các bệnh đường ruột và tiêu chảy là dấu hiệu chung của hầu hết các bệnh như vậy. Sự lây truyền của các tác nhân truyền nhiễm gây bệnh ruột là theo đường tiêu hóa (ăn uống).
- Tiêu chảy do virus rất phổ biến trên heo, ảnh hưởng lớn đến hiệu suất chăn nuôi.
- Hậu quả: 
  • Tổn thương ruột: bất dưỡng biểu mô TGEV 
  • Mất trọng lượng, suy nhược, chậm lớn 
  • Tỷ lệ bệnh rất cao >50% 
  • Tỷ lệ chết cao >10%
Hình 1: Phân bố bệnh do virus theo từng nhóm tuổi
(https://www.msdvetmanual.com/digestive-system/intestinal-diseases-in-pigs/overview-of-intestinal-diseases-in-pigs#v4721084)

1. Đường truyền lây

- Bệnh lây lan qua nhiều con đường
  • Heo bệnh bài thải mầm bệnh 
  • Vector (vật lý, sinh học) 
  • Môi trường ô nhiễm 
  • Heo trưởng thành lây sang heo con 
- Mầm bệnh truyền nhiễm lây lan rất nhanh, phạm vi và khoảng cách rộng 
- Đàn heo không có kháng thể thì bị ảnh hưởng rất nặng, đặc trưng 
- Đàn heo thường có kháng thể không ổn định thì bị ảnh hưởng tùy trường hợp 

2. Cơ chế tiêu chảy chung


- Giảm hấp thu dẫn đến tiêu chảy: Lượng nước do ăn uống đưa vào cùng với dịch tiết của ruột trong một ngày rất nhiều. Phần lớn nước được hấp thu tại ruột, do đó chỉ cần giảm tái hấp thu ở ruột một chút là lượng nước trong ruột sẽ rất lớn.
- Tăng co bóp ruột, do tăng các chất không hấp thu: Lượng các chất có trong lòng ruột quá nhiều --> kích thích ruột tăng co bóp --> nhanh chóng đẩy các chất ra ngoài gây tiêu chảy.
- Tiêu chảy do tổn thương niêm mạc ruột: Dẫn đến kém hấp thu ở ruột non, kém tái hấp thu ở đại tràng, tăng rò rỉ protein và dịch nhầy khi tổn thương ở ruột non.

- Hậu quả của tiêu chảy:
  • Mất nước qua phân: Máu cô đặc, tuần hoàn máu giảm và dẫn đến trụy tim mạch.
  • Mất nước qua phân: Mất những muối kiềm của dịch tụy, mật và ruột (natri bicabonat) đưa đến nhiễm acid - Rối loạn huyết động học - Tình trạng rối loạn chuyển hoá các chất như chuyển hoá yếm khí làm tình trạng nhiễm acid ngày càng nặng thêm - nhiễm độc thần kinh gây dãn mạch -Tăng rối loạn huyết động học và hình thành vòng xoắn bệnh lý ngày càng trầm trọng.

3. Bệnh dịch tiêu chảy cấp PED

- PED (Porcine Epidemic Diarrhea) là bệnh tiêu chảy cấp trên heo, do một loại vi rút gây ra. Vi rút gây bệnh PED (PEDv) xâm nhập vào đường tiêu hóa, tấn công và phá hủy các tế bào nhung mao ruột non của heo, làm cho lông nhung ruột hư hại, teo đi và ngắn hơn, dẫn đến giảm khả năng hoạt động của các men tiêu hóa trong ruột, giảm khả năng hấp thu dinh dưỡng trong thức ăn hay trong sữa (đối với heo con).

3.1 Đặc điểm dịch tễ

- Bệnh gây ra do virus PED và lây lan rất nhanh trong đàn, thường xảy ra với heo nuôi ở chuồng trại ẩm ướt, lạnh, bẩn, heo con chưa được tiêm sắt, heo mẹ chưa được tiêm phòng đầy đủ
- Virus gây bệnh tồn tại lâu trong môi trường, chất thải chăn nuôi nhưng dễ bị tiêu diệt bởi ánh sáng, hóa chất sát trùng. Vì vậy, công tác vệ sinh, khử trùng chuồng trại, môi trường chăn nuôi rất có ý nghĩa trong phòng chống dịch bệnh này.
- Bệnh lây lan và phát dịch nhanh, lây trực tiếp từ heo ốm sang heo khỏe (qua phân, dịch tiết…), lây gián tiếp qua phương tiện vận chuyển, người ra vào, thức ăn, nước uống nhiễm mầm bệnh. Sau khi xâm nhập qua đường tiêu hóa, virus gây bệnh tăng lên nhanh ở ruột non, ăn mòn lớp nhung mao ruột, làm cho ruột mỏng dần, xuất huyết, heo không tiêu hóa được thức ăn, gây nôn mửa và tiêu chảy. heo con bị bệnh ở phân và dịch nôn có màu trắng đục, vàng nhạt hoặc đậm. Virus xâm nhập vào sau 18-24 giờ đã có biểu hiện lâm sàng trên đàn lợn.

3.2 Tác nhân gây bệnh

- Bệnh do một Coronavirus gây ra (cùng họ với virusTGE), bệnh khá phổ biến trên heo. Virus tấn công vào hệ nhung mao ruột làm giảm bề mặt hấp thu, dẫn đến mất nước và mất chất dinh dưỡng gây chết heo.

3.3 Cơ chế gây bệnh


- Virus có trong phân, trên nền chuồng, trên da, lông heo mẹ. Virus lây nhiễm vào cơ thể heo qua đường miệng, sau đó nhân lên ở biểu mô ruột non, phá hủy hệ thống nhung mao ruột, làm giảm hoạt động của enzyme ở bề mặt biểu mô ruột, từ đó làm giảm sự hấp thu các chất dinh dưỡng và nước nên heo bị thiếu năng lượng, bị tiêu chảy và mất nước trầm trọng, đưa đến chết heo nhanh chóng. 
- Để phân biệt với tiêu chảy do vi khuẩn, thường bệnh xảy ra không ồ ạt, thời gian xuất hiện bệnh chậm, chỉ xảy ra trên một số ít heo trong bầy, hoặc chỉ một vài bầy trong toàn đàn bị tiêu chảy và có thể điều trị khỏi bệnh bằng kháng sinh.
- Trong khi đó, dịch tiêu chảy cấp do virus gây ra, tình trạng tiêu chảy nặng xuất hiện rất nhanh, chỉ 2-3 ngày đã lây cho toàn đàn, mọi lứa tuổi đều có thể bị bệnh kể cả heo nái. Biểu hiện đặc trưng là heo bị ói, tiêu chảy rất lỏng, màu hơi vàng, mùi hôi, có lẫn sữa không tiêu hóa. Heo nằm chồng đống lên nhau vì bị lạnh do thiếu năng lượng. Đối tượng bị ảnh hưởng nặng nhất là heo con sơ sinh với tỷ lệ chết cao.

3.4 Biểu hiện lâm sàng và bệnh tích

- Heo con:
  • Tiêu chảy nhiều nước
  • Ói mửa
  • Ruột non chứa nhiều nước
  • Thành ruột mỏng
  • Cùn nhung mao, bất dưỡng
  • Tỷ lệ bệnh 100%
  • Tỷ lệ chết 30-80%
- Heo cai sữa, heo choai:
  • Tiêu chảy nhiều nước
  • Chết đột ngột (và trường hợp) với hoại tử cơ lưng
  • Tỷ lệ bệnh 100%
  • Tỷ lệ chết thấp 2-3%
- Lợn/nái:
  • Tiêu chảy nhiều đến nặng
  • Giảm khả năng sinh sản
  • Không ghi nhận bệnh tích


3.5 Phân biệt các bệnh

- Quá trình lây lan nhanh trong đàn có thể là do PED, TGE…; lây lan chậm có thể là do E.coli, Cocidiosis…
- Bệnh do PED thường ở mọi lứa tuổi; TGE thường trong 20 ngày tuổi đầu tiên, Cocidiosis thường sau 1 tuần tuổi.
- Tỉ lệ bệnh, chết: Bệnh gây chết nhiều, nhanh, điều trị bằng các kháng sinh đặc hiệu mà không có kết quả có thể là bệnh PED, TGE. Bệnh do E.coli, Cocidiosis… điều trị bằng kháng sinh và thuốc trị cầu trùng đặc hiệu là khỏi.

3.6 Phòng bệnh

- Heo mẹ: Tiêm phòng đầy đủ các loại vắcxin (bao gồm vắcxin PED)
- Heo con: Tiêm sắt
- Chuồng trại: Giữ chuồng ấm, khô, sạch
- Chống mất nước: Cho heo uống chất điện giải hoặc tiêm xoang bụng dung dịch glucoza, nước muối sinh lý, lactat…
- Giảm nhu động ruột bằng cho uống nước lá chat (lá ổi hoặc trà bắc và vài lát gừng) hoặc tiêm Atropin.
- Cân bằng tập đoàn vi sinh đường ruột bằng cách bổ sung men tiêu hóa.
- Tùy nguy cơ bệnh kế phát có thể: Cho thuốc chống cầu trùng: Anticoc, Baycoc... hoặc cho uống thuốc kháng khuẩn đường ruột: Sulfamethoxazole, Trimethoprim, Colistin, Enronofloxacin, Oxytetrcyclin...

3.7 Thực hiện an toàn sinh học

- Đảm bảo cách ly:
  • Chuồng trại có hàng rào ngăn cách giữa trong và ngoài trại, xe mua heo không được vào trong trại mà phải đỗ ở ngoài trại đúng nơi quy định.
  • Tăng cường kiểm soát người và các phương tiện ra vào trại, đặc biệt là các xe và người mua heo, có thể mang mầm bệnh từ các nơi khác đến, đây là nguyên nhân chính làm lây lan dịch bệnh.
  • Xe vận chuyển trong trại sau khi vận chuyển phải được rửa, sát trùng, để khô mới được vận chuyển tiếp.
  • Có chuồng nuôi cách ly khu nuôi lợn mới nhập và khu bán heo.
- Thường xuyên vệ sinh, khử trùng trong chuồng nuôi, môi trường xung quanh, có hố sát trùng ở cửa ra vào chuồng. Đảm bảo chuồng trại sạch sẽ, khơi thông cống rãnh, quản lý tốt chất thải chăn nuôi.
- Thực hiện phương pháp chăn nuôi “Cùng vào, cùng ra”.
- Không nuôi nhiều loài gia súc, gia cầm chung trại hoặc nuôi heo nái nuôi con cùng chuồng nuôi heo ở các lứa tuổi.
- Định kỳ phát quang bụi rậm, khơi thông cống rãnh, tiêu độc sát trùng, diệt côn trùng gặm nhấm…
- Luôn tuân thủ qui tắc: KHÔ, SẠCH, ẤM cho chuồng nái nuôi con và chuồng heo con.
- Heo mẹ trong thời gian mang thai nên đảm bảo đầy đủ dưỡng chất cho bào thai, nuôi đúng kỹ thuật.

4. Bệnh viêm dạ dày ruột truyền nhiễm (TGE)

4.1 Tác nhân gây bệnh

- Bệnh TGE (Transmissible Gastroenteritis), còn gọi là bệnh viêm dạ dày ruột truyền nhiễm, là một bệnh truyền nhiễm Coronavirus gây ra trên heo.
- Bệnh lây lan chủ yếu do tiếp xúc trực tiếp, đường xâm nhập chủ yếu là miệng, bệnh có thể lây truyền qua thức ăn, nước uống, qua người chăm sóc nuôi dưỡng (tay chân, giày dép) hoặc do chó mèo, chuột, chim mang mầm bệnh từ nơi này sang nơi khác. 
- Tử số tùy thuộc lứa tuổi, tuổi càng nhỏ tử số càng cao. 
  • Heo từ: 0 - 7 ngày tuổi tử số 100%
  • Heo từ 8 - 14 ngày tuổi tử số 50%
  • Heo từ: 15 - 21 ngày tuổi tử số 20%
  • Tử số thấp đối với heo con lớn hơn 3 tuần tuổi

4.2 Triệu chứng lâm sàng

- Dấu hiệu đầu tiên trên heo con là nôn mửa. 
- Tiêu chảy bắt đầu 18 – 30 giờ sau khi heo con tiếp xúc với virus, triệu chứng thấy dễ dàng trong ổ dịch hoặc khi heo mẹ bị bệnh. 
- Lúc đầu tiêu chảy ít nhưng toàn là nước, lúc tiêu chảy nhiều thì phân có màu vàng xám trông giống như bùn trên sàn chuồng.
- Heo rất khát, cố gắng uống nước ở bất cứ chỗ nào có nước và kêu ré lên một cách yếu ớt khi bị cầm giữ. 
- Heo con tiêu chảy kéo dài, mất nước, yếu và chết trong vòng 2 – 5 ngày.
- Tỉ lệ chết của heo dưới 7 ngày tuổi có thể đến 100% khi bệnh thể cấp tính. Ở các heo đang theo mẹ lớn hơn thì tỉ lệ chết thấp hơn nhưng dễ bị ảnh hưởng bởi lạnh, ẩm ướt, hay nhiễm trùng vi khuẩn gây bệnh kế phát.
- Ở heo con cần phân biệt bệnh viêm dạ dày ruột truyền nhiễm T.G.E với các bệnh do RotaVirus, do vi khuẩn Clostridium, E.coli, Cầu trùng.
- Bệnh hay nhầm lẫn với bệnh RotaVirus do cùng có biểu hiện nôn mửa, hay phó thương hàn cũng nôn mửa. Cần căn cứ vào tuổi của heo để chẩn đoán.
- Heo nái bệnh thường có triệu chứng thông thường như bỏ ăn, mệt mỏi, lượng sữa giảm hoặc ngừng tiết sữa, tiêu chảy phân màu xanh xám từ một ngày đến vài ngày.



4.3 Giải pháp khắc phục

- Không có điều trị đặc hiệu cho TGE.
- Cấp kháng sinh toàn thân qua đường tiêm hoặc đường miệng bằng cách trộn thức ăn hoặc pha nước uống để làm giảm nhiễm trùng thứ phát.
- Cung cấp vitamin và chất điện giải.
- Cải thiện việc chăm sóc môi trường của chuồng đẻ bằng cách cung cấp thêm đèn nhiệt và chất lót chuồng nhằm tạo cho heo con chỗ nghỉ ngơi ấm áp. Giảm ô nhiễm do phân tiêu chảy và giảm sự lây lan bằng cách vệ sinh sát trùng thường xuyên.

4.4 Quản lý và phòng ngừa

- Ngay khi nghi ngờ có bệnh, phải lập tức cách ly những trại đẻ chưa bị nhiễm bệnh, bằng cách sử dụng nhân viên và dụng cụ chăn nuôi, đồ bảo hộ riêng biệt. Điều này đặc biệt quan trọng ở lợn con dưới 14 ngày tuổi. Hạn chế được thời gian lây lan của bệnh càng lâu càng tốt để giảm tỷ lệ tử vong. Nếu có thể, hãy di chuyển lợn nái 3 tuần trước đẻ đến một khu đẻ sạch bệnh trước khi chúng bị nhiễm.
- Điều cần thiết là phải phát triển khả năng miễn dịch trong các con lợn nái khô càng sớm càng tốt bằng cách:
  • Tthu thập các phân tiêu chảy vào tô hoặc mùn cưa hoặc khăn giấy rồi cho vào máng nái khô và nái mang thai cho chúng ăn. 
  • Cũng có thể lấy ruột non từ một số con lợn đã chết thay vì lấy phân cho nái ăn. Mục đích là để có được một khả năng miễn dịch tốt phát triển trong thời gian ngắn nhất có thể. Sẽ mất khoảng 3 đến 4 tuần để đạt được điều này.
- Một khi đợt bệnh qua đi, cần tái lập hệ thống quản lý cùng vào cùng ra cho tất cả các lứa tuổi heo bao gồm trại đẻ, trại cai sữa và trại lợn thịt đang lớn cũng như trại vỗ béo.
- Khử trùng chuồng trại bằng các chất khử trùng chứa iốt hoặc một hoạt chất rất mạnh chống lại virus. 
- Quá trình làm sạch này là một phần quan trọng để đảm bảo virus không tiếp tục tồn tại trong trại và có nguy cơ trở thành dịch địa phương. 
- Xem lại các qui trình vệ sinh an toàn sinh học cho trại như: Tiêu độc sát trùng định kỳ, các hố sát trùng cho phương tiện và nhân viên ra vào, hạn chế du khách, sử dụng đồ bảo hộ lao động, quy trình cách ly người và heo mới mua.
- Hạn chế sự xâm nhập của chim trời vào chuồng trại. 
- Tiêm chủng: Mục tiêu là để duy trì khả năng miễn dịch trong sữa đầu. Điều này chỉ có thể được thực hiện bằng cách kích thích đường ruột của lợn nái để sản xuất kháng thể trong sữa. Do kháng nguyên virus TGE xâm nhập qua đường ruột của nái và kích thích sản xuất kháng thể truyền qua sữa. Vì vậy, tiêm bắp vacxin TGE cho phản ứng rất kém. Ngoài vacxin thương mại, trại có thể thực hiện quy trình autovacxin như đã trình bày ở trên.

5. Tiêu chảy do rotavirus

5.1 Tác nhân gây bệnh

- Rotavirus lan rộng cả trong quần thể heo và hầu hết các động vật có vú khác và chúng được phân loại thành hoặc các nhóm khác nhau. Nhóm A có lẽ là phổ biến nhất ở heo, nhưng lây nhiễm do các nhóm B, C và E cũng xảy ra với tần số thấp


- Rotavirus ở khắp mọi nơi và chúng có mặt trong hầu hết nếu không muốn nói là tất cả các đàn heo với hầu như 100% những đàn lớn có huyết thanh dương tính với nó. 
- Một đặc điểm dịch tễ học nữa là khả năng sống sót lâu dài của chúng bên ngoài cơ thể heo, và chúng có khả năng đề kháng đối với những thay đổi của môi trường và nhiều chất khử trùng. 
- Kháng thể mẹ truyền bảo vệ heo con tới 3-6 tuần tuổi sau đó heo con trở nên dễ bị nhiễm trùng nhưng tiếp xúc với virus không nhất thiết sẽ dẫn đến bệnh tật lâm sàng. 
- Người ta ước tính rằng chỉ có 10-15% tiêu chảy ở heo được khởi xướng bởi nhiễm rotavirus như là một tác nhân chính. Thực tế là các virus vẫn tồn tại trong môi trường nên điều đó giải thích tại sao bệnh lan rộng và luôn luôn tồn tại nguy cơ bùng phát bệnh.

5.2 Biểu hiện lâm sàng

- Tiêu chảy ở heo 1-3 tuần tuổi:
  • Phân lỏng trắng, vàng nhiều nước.
- Sữa không tiêu lợn cợn trong ruột
- Dạ dày căng phồng do chứa sữa đông vón
- Ói mửa không thường xuyên (tần xuất ít hơn PED, TGE).
- Tỷ lệ bệnh 20%
- Tỷ lệ chết dưới 20%

- Nếu khồn phụ nhiễm thì tiêu chảy vài ngày và hồi phục.
- Phụ nhiễm ecoli, TGE, tử số cao.
- Trên heo sau cai sữa:
  • Có thể tiêu chảy nhẹ, ngắn.
  • Phụ thuộc vào tác nhân phụ nhiễm hay nhiễm ghép.

5.3 Chẩn đoán

- Mẫu: Ruột no, phân.
- Phương pháp xét nghiệm:
  • RT-PCR, multi-plex PCR (phân biệt PED, TGE)
  • Phân lập – giải trình tự
  • ELISA
  • IHC/ISH/FA 

5.4 Cách khắc phục

- Không có phương pháp điều trị cụ thể cho bệnh nhiễm trùng do rotavirus.
- Cung cấp thuốc kháng sinh bằng cách tiêm, cấp bằng đường miệng trong thức ăn hoặc trong nước uống để kiểm soát nhiễm trùng thứ phát như E. coli. Apralan, amoxicillin, neomycin, framycetin và enrofloxacin có thể được sử dụng.
- Cung cấp dextrose/glycine, điện giải, để chống lại tình trạng mất nước.
- Cung cấp cho khu vực nằm ấm áp và thoải mái và khô thoáng.

5.5 Quản lý và phòng ngừa

- Giảm mức độ của virus trong môi trường bằng cách tiêu độc sát trùng định kỳ bằng các chất sát trùng gốc chlor, peroxygen như Virkon S. 
- Để trống chuồng ít nhất 2-4 ngày trước khi lợn mới được đưa vào. Giảm sự lây lan của virus giữa các nhóm lợn bị nhiễm bệnh và không nhiễm bệnh bằng cách duy trì các hố sát trùng và sử dụng quần áo bảo hộ lao động phù hợp sau khi xử lý lợn bị bệnh.
- Nếu một vấn đề do rotavirus dai dẳng trong trại thì nên dùng biện pháp autovacxin để tạo kháng thể mẹ truyền bằng cách lấy phân heo con bị bệnh cho vào mùn cưa hoặc vào nước rồi đổ vào máng ăn cho nái. Làm như vậy 2-3 lần mỗi tuần trong tuần bốn và tuần ba trước khi đẻ.
- Áp dụng quy trình cùng vào – cùng ra và tuân thủ nghiêm ngặt các thủ tục vệ sinh sát trùng. Đặc biệt chú ý đến stress do môi trường và biến động của nhiệt độ.



Tài liệu tham khảo:
- Hạ Thúy Hạnh (6 tháng 10 năm 2016). “Dịch bệnh tiêu chảy cấp trên lợn con (PED) và cách phòng trị”. http://www.iasvn.vn. Phân viện Chăn nuôi Nam Bộ.
- Thu Phương (6 tháng 7 năm 2011). “Bệnh viêm dạ dày ruột truyền nhiễm trên heo”. Báo Nông nghiệp Việt Nam. Truy cập 3 tháng 9 năm 2016.
- Muirhead M. R., Alexander T. J. L. and Carr J., 2013. Managing Pig Health and the Treatment of Disease. ISBN 9780955501159.
- www.vetmed.vt.edu. TRANSMISSIBLE GASTROENTERITIS IN PIGS.

Like và chia sẻ bài viết này ủng hộ mình nhé!

0 Response to "Bệnh tiêu hóa do virus trên heo"

Đăng nhận xét

Được tài trợ

Liên kết

Học revit môi trường | Bơm Công Nghiệp | Tuyển Nổi DAF | Tự Học Exsel | Bách Hóa Môi Trường | Tài Liệu Môi Trường
Hotline: 033.273.7037